Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

So Sánh xi măng PC40 & PCB40

PC40 & PCB40

HỎI: Xin hoi: Co phai xi mang PC 40 la xi mang Portland va xi mang PCB 40 la xi mang portland hon hop? Su khac nhau ve chat luong, gia ca va cong nang cua hai loai xi mang noi tren? Tren thi truong, loai xi mang nao la pho bien hon?

--------------------------------------------------------------------------------
ĐÁP:
1. Tên gọi: Đúng như quý khách hàng đã hiểu : xi măng PC40 là xi măng Portland, xi măng PCB40 là xi măng Portland hỗn hợp.


2. Thành phần: Sự khác nhau căn bản về thành phần giữa hai lọai xi măng nói trên là xi măng PCB40 có một lượng khá cao phụ gia họat tính thủy lực . Điều này làm cho vữa
xi măng PCB40 dẻo hơn, và sau khi đóng rắn , xi măng PCB 40 có tính chịu nước cao hơn so với xi măng PC 40.


3. Chất lượng:

- Sự giống nhau: Sự giống nhau giữa PC 40 và PCB 40 là cường độ kháng nén của "đá xi măng" sau 28 ngày tuổi đều là 40 N/mm2 .
- Sự khác nhau: Sự khác nhau căn bản giữa hai lọai xi măng này ở các chỉ tiêu dưới đây

Loại xi măng Cường độ chịu nén sau 3 ngày tuổi (N/mm2) Thời gian kết thúc đông kết (phút)
PC40 ≥ 21 ≤ 375
PCB40 ≥ 18 ≤ 600

4. Công năng:
Do sự khác nhau nói trên , PC 40 thích hợp cho việc xây dựng phần công trình trên cạn ( ví dụ : đổ bê tông sàn, làn vữa xây tường ), còn PCB 40 thích hợp hơn cho việc xây dựng phần công trình chịu nước (ví dụ : đổ móng).
Sử dụng xi măng PC 40 cho phép tốc độ thi công nhanh hơn vì thời gian kết thúc đông kết nhỏ hơn nên có thể dỡ cốp pha sớm hơn , sau 3 ngày cường độ kháng nén đạt cao hơn.
Tuy nhiên, hiện nay người ta thường sử dụng PCB 40 cho cả việc xây dựng phần công trình trên cạn và phần công trình chịu nước.

HỎI: Tại sao gọi là “Bê tông Mô-ni-ê”?

--------------------------------------------------------------------------------
ĐÁP:

“Bê tông Mô-ni-ê” là bê tông cốt thép, nó kết hợp được hai tính năng:

Chịu nén tốt của bê tông thường.
Chịu kéo, chịu uốn khỏe của cốt thép
Nhờ vậy mà người ta xây dựng được nhiều công trình kiến trúc có hình thức cầu kỳ, có độ thanh mảnh độc đáo; điều mà bê tông đơn thuần không làm được.

Cách đây hơn 150 năm, người ta b ắt gặp ở chung quanh vùng Grenoble, Tây Nam Paris, các ống đúc bằng xi măng bên trong có vỉ kim loại, và đặc biệt lôi cuốn sự chú ý bấy giờ là một chiếc thuyền đúc bằng xi măng với bộ khung sắt bên trong, được triển lãm tại Paris năm 1855.

Sau đó, trong các năm 1867, 1873, Josehp Monier đã lấy được 3 bằng phát minh liên quan đến việc đổ bê tông cốt thép đúc các bồn chứa lưu động, xây dựng cầu mái vòm, và đổ tấm trần. Do bằng sáng chế gắn liền với tên Monier nên thời gian dài ở Châu Âu, người ta quen gọi bê tông cốt thép là “Bê tông Mô-ni-ê”.

HỎI: Các yêu cầu về cốt liệu nhỏ (bột đá, cát)?

--------------------------------------------------------------------------------
ĐÁP:

a) * Cốt liệu nhỏ phải được loại bỏ hết tạp chất như đất, than, quặng sắt, thạch cao, mica…
* Các loại sét, phù sa, bụi không vượt quá 3%. Muốn biết tỷ lệ này, ta có thể làm một thử nghiệm đơn giản sau:

Bằng cách đổ nước vào trong cốt liệu nhỏ và lắc thật mạnh ống nghiệm.
Để yên cho cát lóng.
Sau 1 giờ, ta thấy lớp bùn trồi lên phía trên.
Và nếu lớp bùn dày không quá 1/25 của lớp vật liệu trong ống nghiệm thì chấp nhận được.
Nhưng nếu dày quá tỷ lệ này, cát phải đem rửa cho sạch mới dùng được.



b) Cát có thể lẫn chất hữu cơ, làm suy yếu bê tông: không thể dùng được, muốn biết:

Đổ cốt liệu nhỏ chung với nước có pha 3% sút rồi lắc mạnh.
Sau 24 giờ để yên, nước phải sạch, không có màu; hoặc nếu có chỉ là màu vàng nhạt.
Nếu màu vàng sẫm là dấu hiệu có chất hữu cơ, cốt liệu nhỏ đó không dùng được.



Một khối lượng cốt liệu nhỏ mà có đủ các cỡ hạt từ 0,14 – 5mm là rất tốt cho việc chế tạo bê tông. Yếu tố này ít người ta để ý, cứ cho rằng cát nào cũng được! Nhưng trong các công trình quan trọng, các kỹ thuật viên xem xét kỹ lưỡng thành phần cỡ hạt của cốt liệu để bảo đảm tính tối ưu của bê tông.

HỎI: Các yêu cầu về gạch xây? Kỹ thuật cơ bản xây tô?

--------------------------------------------------------------------------------
ĐÁP:

a) Chọn đúng loại gạch (gạch ống, gạch thẻ, gạch block) và đúng kích thước yêu cầu.

Sức chịu đạt cường độ qui định của công trình.
Kiểm tra nhanh bằng cách bẻ đôi cục gạch để xem mặt cắt viên gạch có bị lỗ, bộng, các hạt tạp chất.
Độ hút nước không quá 18% trọng lượng viên gạch.
b) Trước khi xây, gạch phải nhúng nước, để không hút nước trong hồ vữa. Nhưng không ngâm lâu quá dẫn đến mặt tường sẽ bị “lên hoa” (meo mốc) về sau.

c) Mạch vữa ngang không dày hơn 2cm, mạch đứng không quá 1,5cm, các mạch phải đầy vữa không để rỗng, bọng. Tóm tắt nguyên tắc xây gạch: “ngang bằng, đứng thẳng, mặt phẳng, góc vuông, mạch không trùng, khối xây đặc chắc”.

d) Sau khi xây gạch gặp trời mưa: cần che đậy; gặp trời nắng: cần tưới nước.

e) Tường xây dở (cách đêm) không được để mạch răng cưa mà để mạch giật cấp theo ta-luy để hôm sau xây tiếp.

f) Trừ tường con kiến, gạch một dầy khoảng 10cm còn tường đôi (dầy khoảng 20cm) hay tường ba (dầy khoảng 30cm) ngoài hàng gạch dọc theo tường tạo thành lớp tường 10cm còn phải đặt gạch ngang vuông góc với mặt tường để liên kết các lớp tường này với nhau theo nguyên tắc ba dọc một ngang hay năm dọc một ngang. Vị trí gạch ngang ở tường ba phải đảo nhau để liên kết cho tốt.
Lê Đức Thương - Hotline:0913.81.0905. Được tạo bởi Blogger.

© 2011 Lê Đức Thương, AllRightsReserved.

Designed by ScreenWritersArena